Đã có toàn văn Luật Hòa giải ở cơ sở 2026, số 16/2026/QH16

Luật Hòa giải ở cơ sở 2026, số 16/2026/QH16 quy định về nguyên tắc, chính sách của Nhà nước; hòa giải viên, tổ hòa giải, người được mời tham gia hòa giải, các bên tham gia hòa giải; hoạt động hòa giải ở cơ sở và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan.

Theo khoản 1 Điều 2 Luật số 16/2026/QH16, hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên và người được mời tham gia hòa giải, nếu có, hỗ trợ, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật. Hoạt động này được thực hiện tại thôn, xóm, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc; tổ dân phố, khu phố, khối phố, khóm và tiểu khu.

Luật Hòa giải ở cơ sở 2026, số 16/2026/QH16
Luật Hòa giải ở cơ sở 2026, số 16/2026/QH16 hiệu lực từ 01/3/2027 (Ảnh minh họa)

Khoản 2 Điều 1 của Luật xác định Luật này không áp dụng đối với hoạt động hòa giải của Tòa án, trọng tài, hòa giải thương mại, hòa giải lao động, hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã và những hoạt động hòa giải được luật khác quy định.

Về phạm vi hòa giải, khoản 1 Điều 3 quy định hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật, trừ trường hợp xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc hoặc lợi ích công cộng; tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội; vi phạm phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xử lý vi phạm hành chính, trừ trường hợp pháp luật quy định khác; và những vụ việc khác không được hòa giải ở cơ sở theo quy định.

Đáng chú ý, Điều 4 yêu cầu hoạt động hòa giải phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không được bắt buộc, áp đặt; đồng thời phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, có lý, có tình và bảo mật thông tin. Việc hòa giải phải tuân thủ pháp luật, phù hợp với đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp; quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, người cao tuổi và người dân tộc thiểu số. Luật nghiêm cấm việc lợi dụng hòa giải để cản trở các bên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc trốn tránh trách nhiệm pháp lý và các nghĩa vụ có liên quan.

Theo Điều 5, trong quá trình hòa giải chỉ được ghi chép để phục vụ việc hòa giải và phải bảo mật nội dung ghi chép. Việc ghi âm, ghi hình không được thực hiện nếu các bên không có thỏa thuận hoặc pháp luật không có quy định khác. Chủ thể vi phạm quy định về bảo mật sẽ bị xử lý theo pháp luật.

Ngoài ra, Điều 6 khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và trang bị phương tiện kỹ thuật cho công tác hòa giải. Điều 7 quy định Nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở từ nguồn ngân sách nhà nước, đồng thời khuyến khích cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân sử dụng nguồn kinh phí hợp pháp để hỗ trợ hoạt động này.

Bài viết liên quan